luat-chung-khoan-nhat-ban-quy-dinh-ve-các-loai-chung-khoan-va-the-phat-hanh

Luật chứng khoán Nhật Bản quy định thế nào về các loại chứng khoán và chủ thể được phép phát hành?

Chị Hoa (Hà Nội) đặt ra câu hỏi: “Hiện nay, luật chứng khoán Nhật Bản quy định thế nào về các loại chứng khoán và chủ thể được phép phát hành?”. Để giúp cho chị Hoa cũng như những quý độc giá khác biết thêm thông tin về luật chứng khoán Nhật Bản thì ngay sau đây, chúng ta hãy cùng đến với lời chia sẻ của các chuyên gia kinh tế tài chính TheBank nhé.

Luật chứng khoán Nhật Bản hiện nay bao gồm cả chứng chỉ ghi nợ (depository receipts – DRs) và những sản phẩm tài chính khác. Tại điều 2, Luật Chứng khoán & Sở giao dịch chứng khoán ghi nhận, chứng khoán gồm các loại:

Xem thêm: NHỮNG ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU CỦA LUẬT AN NINH MẠNG CHỨNG KHOÁN

– Trái phiếu chính phủ.

– Trái phiếu chính quyền địa phương.

– Trái phiếu công ty hoặc pháp nhân có bảo đảm hoặc không có bảo đảm.

– Cổ phiếu, chứng nhận vốn đầu tư, chứng nhận quyền ưu tiên mua trước.

– Chứng chỉ nợ.

– Bản cam kết cho mục đích tài chính do công ty phát hành hoặc được chính phủ bảo đảm.

– Biên nhận ký quỹ.

– Chứng chỉ quỹ đầu tư.

– Thương phiếu.

– Chứng khoán do chính phủ nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài phát hành hoặc thông qua pháp nhân nước ngoài phát hành.

hinh1-luat-chung-khoan-nhat-ban-quy-dinh-ve-các-loai-chung-khoan-va-the-phat-hanh

Luật chứng khoán Nhật Bản quy định rõ ràng về các loại chứng khoán hiện nay

Định nghĩa về chứng khoán trong luật chứng khoán Nhật Bản cũ chỉ tập trung vào các hình thức pháp lý của chứng khoán và giới hạn chúng trong các quy định mang tính chất truyền thống, chỉ đến quy định mới này thì Nhật mới bắt đầu tập trung vào khía cạnh kinh tế của mình. Tuy vậy, việc quy định chứng khoán theo nghĩa rộng có thể bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn so với quy định cũ. Với tiến trình đa dạng hóa chứng khoán, nhiều công cụ tài chính mới tiếp tục được định nghĩa trong luật chứng khoán của Nhật Bản nhưng gần như không đủ để có thể bao trùm hết.

dang-ky-tu-van

Cũng theo luật chứng khoán Nhật Bản thì cổ phiếu có giá trị danh nghĩa bị cấm phát hành ở Nhật với giá thấp hơn mệnh giá, giá phát hành phải thống nhất với với tất cả các cổ phần (Điều 202, điểm 1; 2). Luật sửa đổi bổ sung năm 1981 đã cho phép giá danh nghĩa là 50.000 Yên, đến nay giá cổ phiếu thông thường cũng ở mức này và đôi khi có giá chênh lệch không đáng kể (Điều 166, điểm 2, Điều 168-3). Kể từ năm 1981, những đơn vị cổ phiếu có mệnh giá thấp kết hợp vào thành cổ phiếu lớn hơn sao cho đạt mức 50.000 Yên/cổ phiếu. Khi cần thiết, công ty phát hành cổ phiếu ưu đãi để thu hút vốn nhanh và chỉ được thực hiện sau khoảng khi các cổ phiếu đã phát hành trước được bán hết. Số cổ phiếu ưu đãi được phát hành mới không quá 1/3 số cổ phiếu đã phát hành (Điều 242, điểm 2). Các công ty lớn có thể lựạ chọn huy động vốn từ thị trường chứng khoán Nhật hoặc thị trường nước ngoài.

luat-chung-khoan-nhat-ban-quy-dinh-ve-các-loai-chung-khoan-va-the-phat-hanh

Luật chứng khoán của Nhật Bản mới nhất cũng nêu rõ, các công ty phải tuân thủ hệ thống các quy định thông tin không cần phải phát hành tất cả cổ phiếu ngay từ thời điểm được thành lập

Luật chứng khoán Nhật Bản mới nhất cũng quy định rõ ràng, chủ thể phát hành chứng khoán có thể là chính phủ, cơ quan quyền lực địạ phương và các chủ thể kinh doanh có nhu cầu về vốn (Điều 3). Trong thời kỳ đầu của thị trường chứng khoán Nhật, loại chứng khoán phổ biến nhất và được phát hành rộng rãi đó chính là trái phiếu chính phủ và một số ít là trái phiếu đô thị. Đây là một động thái nhằm cung hàng cho thị trường chứng khoán của Nhật Bản, mặt khác tạo sức mua vì đây là những chứng khoán có độ an toàn cao. Hiện nay cũng theo luật chứng khoán Nhật Bản thì các công ty phải tuân thủ hệ thống các quy định thông tin không cần phải phát hành tất cả cổ phiếu ngay từ thời điểm được thành lập. Số cổ phiếu còn lại có thể phát hành sau đó khi hoạt động kinh doanh phát triển và theo quyết định của hội đồng quản trị. Như vậy, nhu cầu vốn, nhu cầu thị trường, là điều kiện cho phép một chủ thể có thể trở thành chủ thể phát hành. Điều kiện đủ là chủ thể ấy đáp ứng yêu cầu về thông tin theo quy định của pháp luật để có quyền phát hành loại chứng khoán thích hợp với nhu cầu vốn và khả năng thanh toán khoản của mình.

Như vậy với những thông tin trên đây, chắc hẳn chị Hoa và các quý vị độc giả khác đã có được cho mình những kiến thức bổ ích về luật chứng khoán Nhật Bản mới nhất rồi chứ? Nếu như vẫn còn có ý kiến thắc nào khác nữa về luật chứng khoán của Nhật Bản thì hãy mạnh dạn gửi đến cho các chuyên gia kinh tế tài chính của TheBank để có được lời giải thích ngắn gọn và dễ hiểu nhất nhé.

Please follow and like us:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *